Rượu cần
Ẩm thực
Rượu cần
Cơm Lam Kon Plông
Ẩm thực
Cơm Lam Kon Plông
Cà đắng
Ẩm thực
Cà đắng
Măng chua rừng
Ẩm thực
Măng chua rừng

Giới thiệu về Kon Plông

Truyền thuyết vùng đất Măng Đen

         Măng Đen là tên gọi chệch của địa danh T’ Măng Deeng (theo cách gọi của tộc người thiểu số Mơ Nâm, vùng Đông Bắc Tây Nguyên). T’Măng có nghĩa là nơi ở hoặc vùng; Deeng là thần linh. T’Măng Deeng dịch ra tiếng Kinh là nơi bằng phẳng trú ngụ của các thần linh

       Truyền thuyết của người Mơ Nâm kể rằng Từ xa xưa lắm, ở đây phong cảnh đẹp như T Măng Deeng Yeeng (có nghĩa là bãi bằng của các thần linh, đẹp như một vùng phong cảnh rộng lớn ở trên trời - tiếng Mơ Nâm Yeeng có nghĩa là trời trên khoảng đất rất rộng, cỏ hoa chen nhau đua nở, từng đàn ong bướm dập dìu bay lượn, cạnh đó là một con sông lớn, nước trong vắt uốn lượn theo những cánh rừng già, qua những đoạn dốc ghềnh, thác nước đổ xuống va vào vách đá tạo nên những âm thanh trầm hùng, thú ở trong rừng nhiều vô kể, hươu nai, lợn rừng, voi, hổ, chồn….sống với nhau rất hoà thuận, thế nhưng từ trên cao Plinh huynh nhìn xuống (Plinh huynh là vị thần cao nhất có quyền lực nhất ở trên trời mà ta thường gọi là Ngọc Hoàng) Plinh huynh cảm thấy rất buồn bã và vắng lặng. Không hiểu nguyên cớ gì, suy nghĩ mãi Plinh huynh mới nhận ra một điều là ở đây thiếu con người – không có con người sinh sống. Chẳng lẽ ở một vùng đất bằng phẳng, rộng rãi và trù phú như thế này mà không có người ở. Suy nghĩ mãi Plinh huynh bèn quyết định cho 7 người con trai trong số rất nhiều người con của ông xuống vùng này ở lập làng và sinh sống, 7 người con trai đó tên là: Gu Kăng Đam, Gu Kăng Rpong, Gu Kăng Zơ Ri, Gu Kăng Ziu, Gu KăngSăng, Gu Kăng Lung và Gu Kăng Pô.Mỗi chàng trai được Plinh Huynh bắt cho một cô gái ở vùng khác về làm vợ, 7 cặp vợ chồng ấy lập 7 làng quanh vùng T.Măng Deeng và Plinh Huynh quy định mỗi cặp vợ chồng chỉ được sinh đẻ một lần với 10 con trai và 10 con gái. Sau đó người chồng được phong làm vị thần cai quản vùng đất đó gọi là Huynh, còn người vợ phải biến thành những con vật như heo, nai, cá, thằn lằn. Nhưng không phải là những con vật thường mà chúng là những con heo thần, nai thần, cá thần, thằn lằn thần để chăn dắt các loài đó.

   Theo truyền thuyết thì vợ của Gu Kăng Đam và Gu Kăng Prong biến thành heo thần gọi là Chu huynh, vợ của Gu Kăng Zơ Ri, Gu Kăng Ziu, GuKăngSăng biến thành nai gọi là zoi huynh, vợ của Gu Kăng Pô biến thành thằn lằn gọi là Pô huynh, vợ của Gu Kăng Lung biến thành cá gọi là Ca Huynh.

   Và theo quy định của Plinh Huynh thì các vị Huynh cai quản các vùng đó phải kiền ăn thịt của các loài vật cùng loài với vợ mình làm thần.

   Cảnh vật thiên nhiên tươi đẹp, đất đai trù phú cộng với khí hậu ôn hoà mát mẻ nên từ đó đời sống của người dân 7 làng trong vùng T.Măng Deeng này rất sung túc. 7 vị thần cai quản ở đây thương dân hết mức, chăm sóc cuộc sống cho nhân dân, các Huynh dạy dân làm rẫy, làm nhà, dạy dân dệt vải, đàn ông săn bắn, dạy những người già kể chuyện cổ tích, truyền thuyết về làng mình, dân tộc mình, Huynh còn dạy cho con trai, con gái đánh cồng chiêng múa hát, những bài hát ca ngợi tình yêu, ca ngợi sự trường tồn của dân tộc họ…còn người dân ở trong mỗi làng cũng như các làng khác trong vùng T Măng Deeng này họ rất mức thương yêu quý trọng nhau đoàn kết bên nhau làm ăn sinh sống. Vì họ hiểu rằng tất cả hộ đều là anh em ruột thịt, đều là con cháu của Plinh Huynh.

   Cuộc sống ấm no của họ cứ trôi đi năm này sang năm khác, đời này qua đời khác. Những đúa trẻ lớn lên trai thì vào rừng săn bắn, gái thì gùi nước nấu ăn  hoặc lên nương trồng bông dệt vải. Cứ thế người già chết đi người trẻ thì lấy nhau sinh con đẻ cái. Duy chỉ có các vị thần là không chết. Họ sống mãi với bổn phận là chăn dắt dân. Thời gian đầu mỗi năm một lần họ về trời để hội tụ và báo với Plinh Huynh công việc của họ ở trần gian, cũng như đời sống của người trần gian vùng họ cai quản. Thế nhưng cuộc sống ở trần gian làm say mê hấp dẫn họ, vả lại con người phát triển ngày càng nhiều nên họ phải thường xuyên đi đay đó chăn dắt giúp đỡ dân và họ không về trời nữa. Tuy vậy mỗi năm lúa của dân đã về đày kho, heo gà đầy sân, thịt thú rừng cũng như cá ở suối được sấy khô gác đầy chạn bếp, trâu bò dê thả trong rừng đều béo mập. Lúc đó các Huynh dạy dân làm lễ ăn trâu cúng Yeeng (mà nay ta gọi là ăn trâu mừng năm mới).

   Trong lễ ăn trâu đó người dân mặc những bộ đồ đẹp nhất họ uống rượu và ăn uống thoả thích, họ ca hát nhảy múa từ đêm này sang đêm khác.

   Theo sự hướng dẫn của Huynh, trong mỗi cuộc lễ ăn trâu cúng Yeeng nhất thiết đồng bào phải xây dựng cây nêu, cọc gâng. Cây nêu càng cao càng tốt, với 4 cọc gâng dựng xung quanh, họ phải trng trí cây nêu cũng như cọc gâng thật đẹp và sặc sỡ, trên cọc gâng và cây nêu họ vẽ hình trang trí thể hiệm cuộc sống xung quanh họ, hình núi non, sông nước và trên là hình mặt trời. Để thông qua cây nêu (tượng trung cho đường lên trời) các Huynh cai quản dân, báo với Plinh Huynh cuộc sống ở dưới trần gian  về đói no hay ốm đau khoẻ mạnh như thế nào, trong năm qua mưa thuận gió hoà, hay nắng hạn mưa lũ, cũng thông qua cây nêu này các Huynh cai quản dân cầu xin Plinh Huynh cho dân tình được khoẻ mạnh no ấm, lúa đầy kho, heo gà đầy sân, trâu bò đông đúc.


lich sử hình thành.jpg


   Trong các cuộc lễ ăn trâu, ngoài thịt trâu ra dân làng còn mang đến nhiều loại thức ăn khác trong đó có cả thịt heo, thịt gà, thịt nai, cú, thịt têtê, thằn lằn….

   Trong các cuộc lễ ăn trâu đó, các Huynh cũng cùng vui chơi ăn uống với dân.

   Cho đến một năm, vào dịp cúng Yeeng mừng năm mới, dân làng vui vẻ mở hội ăn uống linh đình, hát hò từ đêm này sang đêm khác, các Huynh cũng cùng vui với dân đến ngày thứ 7 họ quên mất điều kiêng kỵ của Plinh Huynh là không được ăn thịt các con vật mà vợ họ trước đây, giờ đang là Huynh chăn dắt loài đó. Các Huynh đi vòng quanh cây nêu uống rượu và ăn hết các loại thức ăn mà dân làng mang đến, trong đó có thịt heo, thịt nai, thịt thằn lằn, cá.

   Chỉ riêng Huynh Pô là vẫn nhớ lời Plinh Huynh không ăn thịt thằn lằn.

   Từ trên cao thông qua cây nêu Plinh Huynh nhìn xuống thấy các vị Huynh con của mình vi phạm luật cấm, ông đùng đùng nổi giận và Plinh Huynh trừng phạt. Tự nhiên giông tố nổi lên đùng đùng, bảy cột khói phụt lên mù mịt và 3 tia lửa từ trên đánh xuống; đất đá đều biến thành nước chảy tràn khắp vùng nhà cửa tài sản và con người cũng như các Huynh đều bị chìm trong hố lửa.

   Riêng làng của Huynh Pô chỉ có một cột khói nhỏ ở giữa làng  vì theo Plinh Huynh bảo rằng: Tuy Huynh Pô không ăn con vật thiêng của làng nhưng Huynh Pô không biết nhắc nhở các Huynh là anh của mình nên phải chọn một trong hai hình phạt hoặc là dân làng phải chết hoặc Huynh Pô phải chết. Vì quá thương xót dân làng nên Huynh Pô tự nhận cái chết về mình và Huynh mang theo một em nhỏ để hàu hạ.

   Các cột lửa từ từ tắt sau khi đã nuốt vào lòng đất toàn bộ con người và tài sản của 6 làng và 6 miệng cột lửa đó biến thành 6 cái hố.

   Dân làng Huynh Pô sống sót chuyển đi nơi khác và tại miệng hố lửa làng này cũng biến thành một hồ nhỏ.

   Người Mơ Nâm gọi hồ là Toong và hiện nay tại vùng T.Măng Deeng (Măng Đen) vẫn còn tồn tại 7 cái hồ. Dân trong vùng gọi các hồ theo tên của các Huynh là: Toong Đam, Toong RPong, Toong ZơRi, Toong Ziu, Toong Săng, Toong Li Lung, và Toong Pô. Ba tia lửa tạo thành 3 dòng thác: Pa Sỹ; Đăk Ke; P ne.

                                                Theo: Truyền thuyết Măng Đen